Pages

Thứ Tư, 31 tháng 8, 2011

Lam sao noi dung dieu khach hang muon nghe

Số lượt xem: 332
Gửi lúc 15:02' 27/01/2011

Làm sao nói đúng điều khách hàng muốn nghe

Làm sao nói đúng điều khách hàng muốn nghe
Thực tế trong ngành bán lẻ cho thấy ngày nay khách hàng càng trở nên kén chọn hơn, họ muốn trả tiền ít hơn và nhận lợi ích nhiều hơn.
 
Chính vì vậy thông điệp mà công ty hay thương hiệu truyền tải trên các công cụ như website, quảng cáo, thư trực tiếp và đặc biệt là quan hệ công chúng cần phải đánh trúng vào những mong đợi nói trên.

Điều bạn nói có phải là những gì khách hàng muốn nghe?

Có thể bạn sẽ cảm thấy ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng có một sự khác biệt rất lớn giữa những gì công ty đang bán và những gì khách hàng thực sự cần. Một khi bạn đặt mình vào vị trí của khách hàng, bạn sẽ nhận ra ngay sự khác biệt lớn này.

Lấy Harley-Davidson làm ví dụ, thương hiệu này sẽ thế nào nếu họ chỉ bán xe mô tô thay vì bán phong cách, tính phiêu lưu mạo hiểm và những tính cách mà một người sở hữu Harley-Davidson luôn tự hào?
 
Một nhà bán lẻ có thể bán những bộ bàn ghế hay đồ trang trí ngoài trời bằng chất liệu hợp kim nhôm chất lượng cao, nhưng khách hàng muốn mua những thứ có tuổi thọ cao, và không dễ bị hư hỏng khi sử dụng ngoài trời cho mục đích vui chơi và giải trí.

Doanh thu sẽ gia tăng một khi bạn nói trúng những gì khách hàng muốn nghe.

Để hiểu rõ những gì họ mong đợi đối với công ty hay thương hiệu, hãy triển khai các chương trình khảo sát, có thể bằng hình thức trực tuyến, nhóm trọng điểm hay thảo luận bàn tròn với khách hàng tiềm năng, hay thông qua những phản hồi trực tiếp khi tiếp xúc bán hàng một đối một.
 
Các thông điệp truyền thông cần phải tạo ra được sự đồng nhất xuyên suốt trên các công cụ từ website, mạng xã hội cho tới các công cụ truyền thông ngoại tuyến. Điều này có nghĩa là chúng cần phải đơn giản, trực tiếp, dễ nhớ và dễ hiểu.

Thông điệp cốt lõi chính là bản chất của thương hiệu hay công ty. Nó duy nhất là của bạn. Cho dù có những công ty khác cũng bán những sản phẩm tương tự, ví dụ như camera hay dụng cụ sửa chữa ống nước, thì những công ty này đều có sự khác biệt về văn hóa, chính sách chăm sóc khách hàng, giá cả và các yếu tố khác.

Thông điệp cốt lõi cần phải xác định rõ ràng sự khác biệt với các đối thủ cạnh tranh và phải tạo ra sự tương quan và gắn kết với khách hàng. Chỉ cho họ thấy trái tim và linh hồn của thương hiệu.

Bạn có thể mô tả công ty là gì và làm gì chỉ với một vài từ?

Điều này đôi khi rất khó khăn với những doanh nhân còn non kinh nghiệm, đặc biệt khi công ty có cung cấp những sản phẩm công nghệ có độ phức tạp cao. Việc tóm tắt được công ty bạn làm gì là rất cần thiết, hay đặc biệt hơn khách hàng sẽ có lợi ích gì từ những sản phẩm bạn cung cấp.
 
Khi xây dựng thông điệp cốt lõi của doanh nghiệp, hãy quên đi những từ như "của chúng tôi" hay "chúng tôi", mà hãy thay thế bằng "bạn" và "của bạn". Loại ngôn ngữ hướng ngoại này sẽ trở nên thu hút khách hàng hơn. Do đó một câu bắt đầu bằng "Chúng tôi cung cấp" có thể được viết bằng "Bạn sẽ có".

Cũng cần bỏ những từ trống rỗng và hay bị lạm dụng như "giải pháp". Một thông điệp cốt lõi hiệu quả sẽ truyền tải được lợi ích khách hàng nhận được khi họ sử dụng sản phẩm. Nó thu hút và nắm bắt sự quan tâm của khách hàng. Nó không phải là nơi để nói về đặc điểm của sản phẩm. Hãy tận dụng thông điệp cốt lõi của công ty nói về lợi ích như một lời hứa, và sử dụng các công cụ truyền thông để giải thích rằng bạn đã, đang và sẽ làm những gì để giữ vững lời hứa đó bằng cách cụ thể hóa các đặc điểm của sản phẩm.

Các chiến dịch quảng cáo và câu khẩu hiệu cần phải nắm bắt đúng bản chất của thông điệp cốt lõi. Bởi vì khẩu hiệu và chiến dịch quảng cáo chỉ tồn tại trong một thời điểm nhất định, trong khi đó thông điệp cốt lõi mới chính là trái tim và linh hồn của thương hiệu và tồn tại trong một thời gian dài.
 
Chính vì vậy rất khó thay đổi cảm nhận của khách hàng về thương hiệu một khi chúng đã được hình thành. Do đó khi xây dựng thông điệp cốt lõi cho thương hiệu, cần phải có tầm nhìn xa và luôn kiên trì hỗ trợ sự phát triển của thương hiệu.

Xem tiếp

Bản gốc: Thiết kế website - Làm sao nói đúng điều khách hàng muốn nghe
0 nhận xét

Mot so thuat ngu can biet khi dung Google Analytics (Phan 1)

Số lượt xem: 230
Gửi lúc 09:34' 26/01/2011

Một số thuật ngữ cần biết khi dùng Google Analytics (Phần 1)

Dân làm web và cả Blogger hẳn không xa lạ gì với Google Analytics, một dịch vụ phân tích, thống kê và theo dõi website được nhiều người ưa chuộng của Google. Với những tính năng mà Google Analytics cung cấp, đủ khiến chúng ta bỏ ra một đống tiền mỗi tháng để sử dụng nhưng thật may mắn là Google lại cung cấp dịch vụ này miễn phí hoàn toàn (Trước khi bị Google mua lại, dịch vụ Urchin này hét giá tới 199$/tháng). Google Analytics cung cấp cho chúng ta khá nhiều thông tin về website như Visit, PageView, Visitor, Traffic Source, Content … Tuy vậy, không phải tất cả chúng đều quan trọng, Bài viết này sẽ đề cập đến những con số mà bạn nên chú ý khi dùng Google Analytics để thấy được tình hình phát triển website của bạn. Nhiều người dùng Google Analytics chỉ để ý đến con số Visit hay PageViews mà không biết rằng ngoài 2 con số đó ra, những tỉ lệ hay thông tin dưới đây cũng cần phải nắm rõ để từ đó có thể vạch ra hướng phát triển mới và những bước đi kế tiếp.

  1. Average PageViews:


  Tức số trang được xem trung bình trên mỗi lượt truy cập. Tỉ lệ này phản ánh sự hấp dẫn của Site đối với người đọc, Average PageViews càng lớn càng chứng tỏ chất lượng nội dung Website càng cao. Ngoài ra, con số này cũng cho thấy việc người đọc tìm thấy nhiều thông tin hữu ích và liên quan đến thứ họ cần. Nếu website của bạn có chất lượng thì theo thời gian con số này sẽ tăng lên vì bạn đạt được số lượng bạn đọc trung thành và lượng người đăng kí theo dõi Website (Subscriber) nhất định. Ngược lại, nếu con số này quá thấp, bạn nên xem lại nội dung website của bạn và giao diện website cũng như nên đặt thêm phần Related Post để người đọc có thể tìm thấy những thông tin hay những bài viết khác liên quan.

  Vậy Average PageViews như thế nào là phù hợp? Điều này tùy thuộc vào bản chất của website bạn. Riêng với một Blog như viettut.info, Viettut cảm thấy 2~4 trang/lượt truy cập là ổn rồi, nếu cao hơn nữa thì tuyệt.

  2. Time on Site:


Dĩ nhiên, hẳn cũng nhiều bạn cũng biết con số này là Thời gian mà khách truy cập bỏ ra để đọc website của bạn. Trung bình, mỗi người chỉ dành ra khoảng 20 giây đọc lướt qua để tìm thứ họ cần rồi sau đó bỏ đi nếu không thấy(Cái này là theo tớ, không biết người khác thì thế nào?). Nếu bạn cung cấp cho họ đúng cái mà khách truy cập đang tìm thì bấy giờ, họ sẽ dừng lại và đọc tiếp nội dung trang web của bạn. Tỉ lệ Time on Site quá thấp (dưới 10 giây mỗi trang) có nghĩa là khách truy cập chỉ click và click, họ không đọc nội dung trên website của bạn (Hoặc mỉa mai hơn là do họ vào nhầm trang và lập tức thoát ra.).

  3. Bounce Rate:


  Bounce rate là lượng khách truy cập vào website của bạn nhưng chỉ xem duy nhất một trang. Sự kiện này xảy ra khi một người truy nhập một trang trên site của ban và cũng ngay lập tức họ nhấn chuột rời bỏ Web site, không quay trở lại. Tỉ lệ bỏ Web cao có thể do nhiều yếu tố trong đó có các yếu tố thời gian tải Web chậm, nội dung không phù hợp với người truy nhập, thiết kế giao diện không cuốn hút …Mình cho rằng nếu Bounce Rate lên tới 90% thì bạn đang gặp vấn đề lớn đấy. 60~90% là bình thường, nên mừng nếu khoảng 40~60% và dưới 40%, mình thực sự ngạc nhiên (và ngưỡng mộ) đấy.

  Những bí quyết để có tỉ lệ Bounce Rate thấp là: Đưa vào những bài viết liên quan, Thiết kế giao diện dễ nhìn và bắt mắt, Tối ưu tốc độ tải trang web … và đăng những bài viết có nội dung tập trung vào chủ đề đã trở thành đặc trưng của website bạn.

  4. Traffic Source:


  Google Analytics thống kê theo 3 nguồn truy cập chủ yếu: Direct (truy cập trực tiếp bằng cách gõ địa chỉ Website trên thanh Address của trình duyệt), Referral (Truy cập gián tiếp qua sự giới thiệu từ các website khác), Search Engine (và … Other, cái này mình có gặp nhưng cũng không rõ Other là nguồn nào?). Tỉ lệ giữa 3 con số này chênh lệch khác nhau tùy hướng quảng bá website của bạn. Referral cao cho thấy bạn đã thành công trong việc quảng cáo và phổ biến Website của bạn đến nhiều Website, forum, Blog khác. Referral cao cũng đồng nghĩa với chất lượng nội dung website của bạn tốt nên nhiều Website khác mới đưa link giới thiệu đến. Traffic đến từ Search Engine cao thì rõ là khả năng SEO (tối ưu hóa Website cho công cụ tìm kiếm) của bạn khá ổn. Nhưng quan trọng nhất vẫn là Nguồn truy cập trực tiếp- Direct Traffic, điều này chứng tỏ khách truy cập đã biết đến "thương hiệu" website của bạn.

  Một điều quan trọng trong phần Traffice Source là bạn nên ghi lại những Keyword đã đem lại nhiều lượt truy cập cho bạn từ SE và hãy tiếp tục sử dụng và phát huy từ khóa đó. Lập kế hoạch để cải thiện những Keyword quan trọng mà web bạn đang xếp hạng thấp hay chưa đem lại lượng truy cập cao.

  5. New Visit:


Tỉ lệ khách truy cập mới. Con số này thực ra không có ý nghĩa gì với các Website/Blog tiếng Việt vì Việt Nam sử dụng địa chỉ IP động nhưng cũng cho thấy phần nào hiệu quả của chiến dịch quảng cáo và những công cụ tìm kiếm.


Xem tiếp

Bản gốc: Thiết kế website - Một số thuật ngữ cần biết khi dùng Google Analytics (Phần 1)
0 nhận xét

Cac phuong phap xac dinh gia tri thuong hieu

Số lượt xem: 0
Gửi lúc 16:27' 19/01/2010

Các phương pháp xác định giá trị thương hiệu

Các phương pháp xác định giá trị thương hiệu
Thương hiệu thực sự là một tài sản của doanh nghiệp, thế nhưng giá trị của tài sản vô hình này lại là một ẩn số khó tìm. Định giá thương hiệu vẫn còn là công việc của các chuyên gia, đòi hỏi sự nghiên cứu rất kỹ càng và cẩn trọng nhưng lại thường cho ra các kết quả gây nhiều tranh cãi.

Muốn biết nhưng không tính được

Xà bông Pears là thương hiệu đầu tiên trên thế giới đăng ký bảo hộ nhãn hiệu từ cuối thế kỷ 18, còn khái niệm quản trị thương hiệu (brand management) được công ty Procter&Gramble phát triển từ năm 1931, chứng tỏ người ta đã nhận thức được tầm quan trọng của thương hiệu từ rất lâu. Mọi người cũng đồng ý rằng uy tín thương hiệu chính là nguyên nhân tạo nên sự chênh lệch ngày càng lớn giữa giá trị cổ phiếu của các công ty danh tiếng trên thị trường chứng khoán so với giá trị hiện hữu trong sổ sách kế toán. Thừa nhận giá trị to lớn của thương hiệu nhưng khi thẩm định khả năng sinh lợi và hiệu quả kinh doanh, các doanh nghiệp vẫn dựa vào những chỉ số như: tỉ suất sinh lợi của vốn đầu tư, tài sản và của vấn chủ sở hữu. Tất cả đều không tính đến giá trị của thương hiệu, một tài sản có giá nhưng vô hình.

Không phải các chủ doanh nghiệp, giám đốc thương hiệu hoặc giám đốc tài chính thờ ơ với tài sản của mình như vậy, mà ngược lại họ rất cần biết một cách chính xác giá trị của thương hiệu dưới dạng một con số cụ thể. Nếu có cách tính chính xác giá trị của thương hiệu tại một thời điểm bất kỳ, việc chọn lựa chiến lược và kế hoạch phát triển thương hiệu của giám đốc marketing sẽ trở nên đơn giản hơn nhiều. Ông ta cũng dễ "làm giá" hơn với HĐQT nếu chỉ rõ được những nỗ lực bản thân đã làm gia tăng giá trị cho thương hiệu chính xác là bao nhiêu tiền. Với số liệu đó, không chỉ giám đốc tài chính mà cả các nhà đầu tư chứng khoán cũng sẽ có cái nhìn cụ thể hơn về phần tài sản vô hình của doanh nghiệp, từ đó có biện pháp bảo vệ hoặc đầu tư, khai thác hiệu quả. Mọi người đều có nhu cầu muốn biết về trị giá của thương hiệu, nhưng giữa "có giá trị rất lớn" và "trị giá x đồng" là hai câu trả lời hoàn toàn khác biệt.

Dựa trên giá trị chuyển nhượng

Cách dễ nhất để nhìn nhận giá trị một thương hiệu là dựa trên giá chuyển nhượng. Nhiều người không đồng ý với cách đánh giá này nhưng ít nhất là đã có người chấp nhận giá trị đó và dùng tiền để chứng minh chính kiến của mình. Đó là người mua. Tuy nhiên giá trị chuyển nhượng thường bao gồm cả trị giá tài sản cố định và trị giá thương hiệu nên người ngoài cuộc không ai biết chính xác nếu tính riêng thì giá trị của thương hiệu là bao nhiêu. Khi cố gắng mua lại PeopleSoft vào năm 2004, Công ty Oracle đã sẵn sàng tăng giá tiền chuyển nhượng từ 5 tỉ USD lên 6,3 tỉ USD và cuối cùng chốt lại ở con số khổng lồ 9,4 tỉ USD (theo eweek.com). Không ai biết giá trị cụ thể về thương hiệu của PeopleSoft là bao nhiêu nhưng chắc chắn là phần tài sản cố định của PeopleSoft không thể gia tăng giá trì gần gấp đôi như vậy trong vòng 18 tháng. Tức là giá trị thương hiệu, cũng như lợi thế thương mại của PeopleSoft đã được Oracle định giá trên 4,4 tỉ USD.

Chuẩn mực kế toán ở nhiều nước, trong đó có cả Việt Nam đã chấp thuận ghi nhận giá trị của thương hiệu như là tài sản vô hình vào bảng cân đối kế toán. Điều này rất dễ làm với các thương hiệu có sự mua bán, chuyển nhượng. Thế nhưng phần nhiều các thương hiệu là do doanh nghiệp tự xây dựng thành công, không thể có giá trị chuyển nhượng để mà ghi sổ.

Dựa trên cơ sở chi phí

Phương pháp này tính giá trị thương hiệu dựa trên các chi phí thực sự mà doanh nghiệp đã phải bỏ ra để phát triển thương hiệu đến tình trạng hiện tại. Đây là cách tính đơn giản, dễ làm trong doanh nghiệp vì tất cả đều là số liệu nội bộ. Chỉ đơn thuần tổng hợp các khoản chi, như chi phí nghiên cứu thị trường, quảng cáo, truyền thông… Một giám đốc thương hiệu tồi có thể tiêu sạch ngân sách tiếp thị của doanh nghiệp nhưng không hề làm gia tăng một đồng giá trị nào cho thương hiệu. Chi phí đầu tư hoàn toàn không tỉ lệ thuận với giá trị gia tăng của thương hiệu nên cách tiếp cận này không chính xác. Tuy nhiên, do sự đơn giản và chủ động trong việc tính toán, một vài doanh nghiệp nhỏ vẫn dùng cách này để tạm tính giá trị thương hiệu của mình.

Một cách khác là tính giá trị đầu tư tương đương. Đó là cách lấy chi phí thị trường hiện tại để ước tính tổng số tiền cần bỏ ra để xây dựng một thương hiệu tương đương với thương hiệu hiện tại. Số tiền này bao gồm các chi phí như xây dựng đề án, nghiên cứu thị trường, sản xuất mẫu thử, quảng cáo, khuyến mại…

Cách tính này thường được các chuyên gia tính nhẩm nhanh trị giá của một thương hiệu. Dù cách tính này cho một con số gần đúng hơn về mặt thị trường so với cách tính đầu tiên nhưng vẫn còn đó nhiều khiếm khuyết. Hai doanh nghiệp có cùng chi phí đầu tư vào một loại sản phẩm trong cùng một môi trường kinh doanh thì trị giá thương hiệu của họ vẫn khác nhau. Đó là do họ có nhân sự khác nhau, chắc chắn sẽ dẫn đến khả năng làm sinh lợi cho các khoản đầu tư tại thời điểm hiện tại và trong tương lại sẽ khác nhau.
 
Dựa trên thu nhập lợi thế

Người tiêu dùng không thể có kiến thức về mọi loại sản phẩm nên thường có xu hướng chọn các sản phẩm có thương hiệu quen thuộc hoặc nổi tiếng, dù sản phẩm này được bán đắt hơn so với sản phẩm cùng loại nhưng có thương hiệu yếu hơn hoặc không có thương hiệu. Phần chênh lệch giá này là do thương hiệu mang lại. Theo phương pháp này, giá trị của thương hiệu là phần doanh thu chênh lệch của nhãn hàng so với mặt bằng chung của thị trường. Tuy nhiên việc chọn thương hiệu so sánh và tính toán giá bán chung của thị trường lại rất khó khăn. Một số công ty, đặc biệt là các công ty hàng tiêu dùng, thường kinh doanh cùng một lúc nhiều thương hiệu. Họ dễ dàng dùng lợi nhuận của thương hiệu này đề đầu tư phát triển thương hiệu khác. Đôi khí giá bán sản phẩm chỉ đơn thuần thể hiện ý chí của chủ thương hiệu muốn thống lĩnh thị trường hiều hơn là giá trị thực tế của sản phẩm. Tuy nhiên người ta vẫn dùng phương pháp này khi muốn so sánh trực tiếp hai thương hiệu với nhau để kiểm chứng các kết quả tính toán khác.

Dựa trên giá trị cổ phiếu

Đây là phương pháp khá đơn giản để ước lượng nhanh giá trị tương đối của thương hiệu trên thị trường. Đó là phần chênh lệch giữa tổng giá trị thị trường của công ty, tính trên giá cổ phiếu, trừ đi toàn bộ giá trị tương đối vì giá cổ phiếu có thể thay đổi từng ngày, nhưng giá trị thực sự của thương hiệu, phụ thuộc nhiều vào chiến lược kinh doanh và tiếp thị của công ty cũng như khả năng thực hiện các chiến lược đó, đều không thể thay đổi một sớm một chiều. Mặt khác, các tài sản cố định thể hiện trong sổ sách kế toán được tính toán dựa trên giá mua, trừ đi khấu hao hàng năm. Giá trị này có thể cao hơn so với giá trị còn lại thực tế của tài sản trên thị trường do tốc độ đổi mới công nghệ, máy móc thiết bị ngày nay rất cao. Ngược lại, có giá trị tài sản như đất đai, hay lợi thế thương mại đôi khi lại được định giá thấp hơn thị trường.

Dựa trên giá trị kinh tế



Khác với các phương pháp định giá theo quan điểm tài chính ở trên, đây là phương pháp định giá khá phức tạp, kết hợp cả các nguyên tắc marketing và tài chính trong các tính toán. Nhiều tổ chức kinh tế, trong đó có Interbrand sử dụng phương pháp này để định giá thương hiệu do mức độ tin cậy cao của việc phân tích toàn diện kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Theo ông Jan Lindemann, Giám đốc định giá toàn cầu của Interbrand, phương pháp này gồm các bước như sau:

Phân khúc thị trường: Giá trị thương hiệu phụ thuộc vào từng môi trường kinh doanh cụ thể. Để đánh giá đúng giá trị thương hiệu, cần dựa trên kênh phân phối, vị trí địa lý, môi trường văn hoá… để chi thị trường thành các phân khúc độc lập. Thương hiệu sẽ được định giá trên từng phân khúc. Tổng giá tr5i của các phân khúc chính là giá trị thương hiệu.

Phân tích tài chính:
Dự báo doanh thu và lợi nhuận tạo nên bởi thương hiệu theo từng phân khúc đã xác định ở bước 1. Đây là cách tính lợi nhuận thông thường, bằng cách lấy doanh thu từ thương hiệu trừ đi chi phí hoạt động, chi phí sử dụng vốn và thuế.

Phân tích nhu cầu: Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu của khách hàng hoặc người tiêu dùng và mức độ ảnh hưởng( tính bằng %) của thương hiệu đến từng nhân tố này. Lợi nhuận do uy tín thương hiệu tạo ra được tính bằng cách nhân lợi nhuận có được ở bước 2 với % mức độ ảnh hưởng.

Phân tích cạnh tranh:
Xác định khả năng cạnh tranh của thương hiệu để xác định % rủi ro của các yếu tố cạnh tranh, gây bất lợi cho thương hiệu trong tương lai. Việc tính toán rủi ro này khá phức tạp khi phải dự báo xu hướng thị trường, tốc độ tăng trưởng, sự bảo trợ của nhà nước… trong tương lai.

Xác định giá trị của thương hiệu
: Giá trị của thương hiệu là giá trị hiện tại thuần (Net Present Value) của tất cả các khoản thu nhập kỳ vọng của thương hiệu trong tương lai, sau khi đã trừ đi giá trị rủi ro dự báo ở bước 4.

Bằng phương pháp này, Interbrand đã kết hợp hàng năm với tạp chí Business Week để xây dựng danh sách 100 thương hệiu hàng đầu thế giới.

Mô hình tính toán này còn rất hữu ích trong quản trị doanh nghiệp, bao gồm từ việc dự tính hiệu quả của chiến dịch marketing, xác định và đánh giá ngân sách truyền thông, cho đến việc đánh giá cơ hội kinh doanh ở thị trường mới hoặc đánh giá hiệu quả việc quản trị thương hiệu. Tuy nhiên, do có nhiều bước tính toán, chịu ảnh hưởng của nhiều tham số nên độ chính xác của phương pháp định giá thương hiệu dựa trên giá trị kinh tế này phụ thuộc vào trình dộ của chuyên gia thực hiện. Với cùng một phương pháp định giá, mỗi chuyên gia có thể sẽ có kết quả tính toán khác nhau. Điều quan trọng là phải lý giải hợp lý được các tham số sử dụng trong tính toán.

Không theo chuẩn mực


Như một cơ thể sống, thương hiệu không tuân theo một nguyên tắc chuẩn mực nào, ví dụ như nguyên tắc kế toán. Cũng vì thế mà việc định giá thương hiệu, cho dù có kỹ lưỡng đến đâu cũng chỉ cho kết quả tương đối. Tuỳ thuộc vào nhu cầu sử dụng mà bạn nên tự thực hiện việc này hay thuê các công ty tư vấn. Nếu bạn cần lượng giá thương hiệu để đánh giá kết quả kinh doanh của năm vừa qua, hoặc đóng góp của chiến dịch tung hàng mới vừa thực hiện vào kết quả chung của công ty, bạn có đủ khả năng tự làm điều đó. Nếu doanh nghiệp của bạn đang cần định giá để thực hiện IPO, lên sản chứng khoán lần đầu, hãy để các chuyên gia nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực định giá thực hiện chuyên môn của mình. Điều quan trọng không phải là thương hiệu của bạn được định giá bao nhiêu, mà là nó được quản trị như thế nào.

Một cuộc đình công của người lao động hay một lời thất hứa của đại lý phân phối với khách hàng, dù nằm ngoài tầm kiểm soát của giám đốc thương hiệu nhưng đều có ảnh hưởng tới uy tín thương hiệu, chứng tỏ việc quản trị thương hiệu hiện nay không còn là chuyện riêng của giám đốc thương hiệu và phòng marketing nữa. Xây dựng và bảo vệ uy tín thương hiệu là công việc chung của toàn doanh nghiệp, trong đó giám đốc thương hiệu là đầu tàu lãnh đạo.


Xem tiếp

Bản gốc: Thiết kế website - Các phương pháp xác định giá trị thương hiệu
0 nhận xét

Thuong hieu qua internet…(Phan 2)

Số lượt xem: 742
Gửi lúc 10:07' 04/08/2009

Thương hiệu qua internet…(Phần 2)

Internet không phải là độc quyền của một mình doanh nghiệp nào cả. Để biến nó thành lợi thế cạnh tranh của mình đòi hỏi bạn phải nắm vững về cách xây dựng cũng như cách hoạt động của nó và cái nhìn của khách hàng đối với nó.


5. Mô hình đăng ký (Subscription Model)

 

Mô hình này được mô phỏng như là 1 câu lạc bộ dành riêng cho hội viên và khách hàng. Nó bắt buộc khách hàng đăng kí tên và mật khẩu để truy cập vào nội dung chính của website, có thể phải trả tiền để có được những quyền lợi đặc biệt.  Mô hình đăng ký cũng tương tự như bạn đặt mua 1 kì báo hàng tháng hay hàng quí, nhờ đó bạn có thể đọc và tìm thấy những thông tin bổ ích hơn hẳn so với những người chỉ tham quan chứ không đăng ký. Hình thức này thường được sử dụng do các doanh nghiệp có sản phẩm/dịch vụ có thể phân phối trực tiếp trên mạng như báo điện tử, phần mềm, tư vấn… Hiện nay rất nhiều trang web có mục đăng ký để khuyến khích tính tương tác giữa công ty và khách hàng.

     

6. Mô hình cửa hàng ảo (Virtual Storefront Model)

 

Mô hình hoạt động như 1 cửa hàng mở 24h/ngày, 7 ngày 1 tuần , đây được xem là dịch vụ thông tin hoàn hảo nhất. Mô hình này không chỉ giúp làm tiếp thị cho sản phẩm và dịch vụ ngay trên mạng. nó còn giúp mua bán trực tiếp từ website và hỗ trợ tối đa cho khách hàng. Bên cạnh việc trưng bày các mặt hàng thì site cũng cung cấp nhiều chức năng giúp việc mua bán trở nên dễ dàng hơn như thanh toán trực tuyến, cấp mật mã riêng cho hội viên, lập ra danh sách khách hàng thường xuyên để gửi những thông tin mới nhất về sản phẩm.

 

Amazon (www.amazon.com)  là một ví dụ điển hình cho sự ra đời và phát triển của mô hình này. Đây là site bán lẻ trên mạng lớn nhất thế giới với hơn 3 triệu đầu sách và nhiều mặt hàng khác. Không chỉ cung cấp sách nhiều chủng loại với giá rẻ, giao hàng nhanh chóng và tận nơi, Amazon còn hỗ trợ tìm kiếm cực nhanh, có mục nhận xét đánh giá sách,  và đặc biệt là nhận mua bán sách cũ, giúp khách hàng tiết kiệm được rất nhiều . Cùng với Amazon là hàng loạt các công ty DOTCOM khác ra đời và phát triển tốc độ chóng mặt ,

 

7. Mô hình đấu giá (Auction Model)

 

Mô hình này khá mới mẻ và rất được ưa chuộng hiện nay. Mô hình đấu giá cho phép người mua và người bán tham gia trên một cửa hàng ảo và được quyền đưa giá trên một phòng đấu giá ảo do mình tạo ra. Đây là phương thức hữu hiệu để tìm kiếm sản phẩm hay mua sản phẩm với giá tốt nhất. Ngòai ra còn có mô hình đấu giá ngược(Reverve Auction Model), nhà cung cấp cho phép người mua chọn giá theo ý muốn rồi sau đó sẽ căn cứ vào đó để quyết định bán sản phẩm với mức giá được đề nghị hay không.

 

Ebay (www.ebay.com)  là một trang web thành công nhất sử dụng mô hình này. Khi vào trang web này bạn có thể tìm kiếm loại sản phẩm, tham khảo mức giá sàn và đưa giá một mức mà mình có thể chấp nhận được. Ebay có thể nói là nơi dễ tìm kiếm những món hàng rẻ nhất, nhưng bạn phải nắm được giá trị thật của nó cũng như là người phán đóan được mức giá mà người khác đưa ra. Ebay chỉ có một khuyết điểm là thời gian mà bạn muốn có được nó sẽ lâu hơn so với bạn đặt mua lập tức trên các website cửa hàng ảo với một mức giá nhất định.

 

PriceLine (www.priceline.com ) là mô hình đảo ngược của đấu giá so với Ebay. Đây là nơi mà các nhà cung cấp dịch vụ hàng không và khách sạn tìm đến để xem mình có thể đáp ứng được một mức giá do người mua đưa ra hay không. Ý tưởng lập ra mô hình đảo ngược giúp cho người mua đạt được lợi ích nhiều nhất, thích hợp với các hợp đồng mua hàng hóa – dịch vụ lớn.

 

8. Mô hình hội thương (Affiliate Model)

 

Mô hình hội thương là khi một website đứng ra kêu gọi các chủ website tham gia làm các dịch vụ của mình. Mô hình này ít được mọi người biêt đến vì nó mang tính nội bộ, chỉ được giới thiệu trong phạm vi các website với nhau . Tuy nhiên mô hình này lại có một giá trị rất lớn, nhờ nó mà các website xây dựng mối quan hệ với nhau, tạo điều kiện cho người truy cập một cách nhanh chóng và tiện lợi. Nó hoạt động như một hiệp hội các website liên kết với nhau, để không chỉ thu hút một lượng lớn đối tượng khách hàng mục tiêu mà còn hỗ trợ cho nhau trong việc cung cấp dịch vụ và sự thoa rmãn tối đa nhu cầu của khách hàng. Ví dụ từ một website chính bán máy vi tính, bạn có thể thông qua nó để đi tìm những linh kiện kèm theo trên các siêu liên kết ( Hyperlink) khác, cài đặt phần mềm, hỗ trợ trực tuyến và các dịch vụ liên quan.  Mô hình của Amazon cũng đã áp dụng hội thương kêu gọi sự tham gia của các website khác làm điểm giới thiệu phân phối cho Amazon, để được hưởng chênh lệch một khoản hoa hồng.

 

9. Mô hình hội thị (Portal Model)

 

Là mô hình cung cấp nhiều loại dịch vụ Internet trên cùng một trang chủ. Phần lớn các website sử dụng mô hình hội thị ngoài nhiệm vụ chính còn cung cấp một số dịch vụ miễn phí như công cụ tìm kiếm, tin tức trong và ngoài nước, nơi truy tìm hàng bán, email hay phòng thoại (chat room) và các diễn đàn. Đây là một mô hình tổng hợp nhiều chức năng, ngày càng được ưa chuộng vì sự đa dạng của nó . Mô hình này có nhiều ưu điểm, nhưng cũng đòi hỏi phải đầu tư rất lớn và quản lý một cách chuyên nghiệp để có thể là một "khu phố" trên mạng của mọi người. Yahoo là một trong những mô hình hội thị thành công nhất, với hàng loạt các chức năng tuyệt vời như : cung cấp thông tin về nhiều lĩnh vực khác nhau, hỗ trợ tìm kiếm, tạo hộp mail miễn phí, nghe nhạc và xem phim trực tuyến, tạo phòng chat và các trò games phong phú. Mô hình Yahoo khai thác được hầu hết những thế mạnh của một mạng trực tuyến, số người sử dụng Yahoo đã chiếm ½ số người sử dụng Internet toàn cầu.

 

Mỗi mô hình đều có điểm mạnh và điểm yếu riêng, và phù hợp với một loại ngành riêng. Để phát huy được tối ưu việc sử dụng mạng trực tuyến làm thế mạnh cho doanh nghiệp đòi hỏi sự đầu tư hợp lý và chuyên nghiệp. Cơ hội luôn mở ra trước mắt cho những ai biết nắm bắt công nghệ và xu hướng của thời đại.

 

Ngọc Quang – Công ty Thương Hiệu LANTABRAND
Xem tiếp

Bản gốc: Thiết kế website - Thương hiệu qua internet…(Phần 2)
0 nhận xét

Uoc mo tro thanh 'ong trum' thuong mai dien tu

Số lượt xem: 258
Gửi lúc 10:36' 25/12/2010

Ước mơ trở thành 'ông trùm' thương mại điện tử

Tôi sinh ra ở một vùng quê nghèo của xứ Thanh, đã thế nhà tôi lại thuộc hộ nghèo nhất xóm. Lần đầu tiên tôi được sở hữu một chiếc máy PC (ram 256 Mb) là vào cuối năm 2007. Kết quả này là sự tranh đấu rất dữ dội trong suy nghĩ nên dùng số tiền đó để mua vé tàu về quê hay là mua PC... Kể từ khi vào Sài Gòn ôn thi rồi đậu vào trường ĐH Kinh tế HCM (2006), tôi chưa một lần về thăm gia đình... Buồn lắm!

Có thể bạn sẽ cảm thấy hài hước khi so sánh hoàn cảnh của tôi với ước mơ trở thành "ông trùm" thương mại điện tử Việt Nam. Nhưng sự thực là ước mơ đó ngày càng lớn dần và nó khiến cho tôi mất ăn mất ngủ mỗi ngày.

Kể từ khi có chiếc máy vi tính, ngoài thời gian đi học, đi dạy kèm, tôi dành hết thời gian cho nó, tò mò tìm hiểu, đôi khi khám phá được chức năng nào mới thì cảm thấy sung sướng. Giờ nghĩ lại cái quãng thời gian đó thấy tuyệt vời lắm.

Cận Tết, khi mà mấy anh chị trong phòng về quê hết, chỉ còn lại một mình...Đi tìm việc làm ở trung tâm thì bị họ gạt, không lấy lại được tiền nên quyết định không làm gì cả, ở nhà với cái máy vi tính. Sau vài lần dò hỏi, làm quen với bà chủ quán net cạnh nhà thì cuối cùng bà chủ cũng cho tôi xin một đường line mạng. Học marketing nên cũng có chút chút năng khiếu thuyết phục người khác...

Những ngày sau đó, tôi tập trung vào tìm hiểu cách tạo một website, tìm hiểu thế nào là hosting, thế nào là domain... Mặc dù lúc đó chỉ suy nghĩ là tìm hiểu vì thích thú, thấy nó hay hay chứ không có khái niệm nào về thương mại điện tử. Lúc 0:00 ngày 31/12/2007 (âm lịch), tôi đã tạo thành công một diễn đàn cho sinh viên làm bằng mã nguồn Vbulletin. Đó cũng chính là một bước ngoặc để sau này làm thay đổi hoàn toàn suy nghĩ của tôi về cách khởi nghiệp.

Ngay tại thời điểm mà tôi viết bài này, diễn đàn đã gần chạm mốc 120.000 thành viên. Tuy là một diễn đàn phi lợi nhuận, nhưng tôi và thành viên Ban Quản Trị (các bạn sinh viên) luôn coi đó là đứa "con cưng" và dành nhiều tâm sức để phát triển.

Không biết có ai giống suy nghĩ tôi không, khi tôi online, tôi cảm thấy thời gian trôi qua thật là nhanh. Mới đó mà cũng đã 3 năm trôi qua, nhưng quãng thời gian đó không phải là vô ích khi mà tôi đã tích lũy cho mình được rất nhiều kiến thức về thương mại điện tử, về online marketing. Tôi nhận ra rằng, với tôi con đường làm giàu nhanh nhất chỉ có thể là thương mại điện tử, tôi ngưỡng mộ Zuckerberg với dự án Facebook.com, Larry Page và Sergey Brin với Google.com, Baidu, taobao... Những con người đó đã tiếp thêm cho tôi động lực để thực hiện ước mơ trở thành "ông trùm" TMĐT Việt Nam.

Tôi có nhiều ý tưởng kinh doanh trực tuyến, mà trong đó có 1 ý tưởng đang được hiện thực hóa. Đó là một website "Thư Viện Điện Tử Việt Nam", nơi cho phép bạn chia sẻ miễn phí hoặc bán những tài liệu mà mình có. Điều đặc biệt là mọi giao dịch đều hoàn toàn tự động, và chính tôi là người tạo công cụ thanh toán trực tuyến trên website thông qua hình thức tin nhắn sms. Mô hình này đã được rất nhiều website tại Việt Nam áp dụng. Dù chỉ tính phí trên phát sinh giao dịch giữa người bán và người mua, nhưng mức lợi nhuận hàng tháng website đem lại cũng đã trên 20 triệu. Hiện tại tôi đã tìm cho mình được một người tài giỏi để quản lý dự án này.

Mới đây thôi, tôi đã thành lập một công ty chuyên về Online Marketing. Khi thành lập công ty này tôi không nghĩ việc đặt lợi nhuận lên trên việc xây dựng cho khách hàng một chiến lược tiếp thị trực tuyến hiệu quả, tất cả là bởi vì tôi luôn mong muốn Thương Mại Điện Tử Việt Nam phát triển.

Cũng vậy, tôi sẽ không ngại khi chia sẻ thêm cho các bạn một ý tưởng lớn của tôi, ý tưởng này tôi sẽ sớm thực hiện trong năm 2011. Đó là một website cho phép người dùng đọc sách trực tuyến, các hiệu ứng của website sẽ khiến cho người đọc như đang xem 1 cuốn sách thật. Có thể lắm bạn sẽ không hưởng ứng dự án này khi bạn cho rằng không có điều gì thay thế cho sách thật được. Nhưng bạn à, những điều mà 10 năm trước người ta không tin là thật thì bây giờ họ lại đang sử dụng thường xuyên như dịch vụ e-mail, dịch vụ tiền ảo... Bạn thấy đấy nếu không có người đọc sách số thì Amazon đâu thiết kế nên Kindle, Google đâu tạo nên Google Books.

Tôi sẽ rất vui mừng khi dù bạn hay tôi là người thành công với dự án này. Năm nay tôi 22 tuổi, có lẽ còn quá trẻ so với nhiều người. Tôi không bị áp lực bởi gia đình, nhưng tôi bị áp lực bởi chính bản thân mình. Tôi bắt buộc phải thành công, phải làm giàu bằng chính đôi tay của mình trong thời gian ngắn nhất. Năm 2008, tôi đã phải nhìn người mẹ mà mình yêu thương nhất ra đi trong đau đớn khi gia đình không có tiền chữa bệnh cho mẹ. Giờ đây tôi đau đớn khi thấy nhiều người còn lang thang đầu đường xó chợ, bị bệnh tật hành hạ ngày đêm...

Tôi lắng nghe giai điệu của bài "If I Die Young", dù lời bài hát không phải tâm trạng của mình, nhưng tôi chợt nghĩ: "nếu ngày mai mình ra đi?"...Tôi sẽ cố gắng làm những gì có thể trong ngày hôm nay, ít nhất sẽ là chia sẻ với mọi người những ý tưởng kinh doanh của mình, hỗ trợ họ phát triển dự án TMĐT... Đó là một trong những điều mà tôi có thể làm để góp phần phát triển Thương Mại Điện Tử Việt Nam

Nếu bạn cần tôi giúp, hay có ý định đầu tư cho dự án Đọc Sách Trực Tuyến, xin vui lòng liên lạc với tôi.


Xem tiếp

Bản gốc: Thiết kế website - Ước mơ trở thành 'ông trùm' thương mại điện tử
0 nhận xét

Lap ke hoach marketing truc tuyen

Số lượt xem: 0
Gửi lúc 22:40' 25/02/2011

Lập kế hoạch marketing trực tuyến

Tương tự như các hoạt động marketing truyền thống, bạn cũng cần có một kế hoạch cho các hoạt động marketing trực tuyến của mình. Dưới đây là những yếu tố cơ bản của một kế hoạch marketing trực tuyến:

Phân tích bên trong và bên ngoài: Có thể áp dụng phương pháp PEST và SWOT để đánh giá các yếu tố bên ngoài có thể ảnh hưởng tới việc thực hiện kế hoạch marketing cũng như các điểm mạnh và điểm yếu nội bộ doanh nghiệp. Tuy nhiên, bạn cũng cần xem xét những yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng quan trọng trong kinh doanh trên Internet như sự chấp nhận về mặt pháp lý của chữ ký điện tử, năng lực thanh toán trực tuyến của hệ thống ngân hàng. Hơn nữa, cũng cần quan tâm tới năng lực của doanh nghiệp bạn liên quan tới marketing trực tuyến như năng lực của hệ thống và nhân viên, danh tiếng của doanh nghiệp hoặc loại sản phẩm đặc biệt mà bạn cung cấp như phần mềm hoặc hy máy ảnh số – những yếu tố sẽ hỗ trợ bạn rất nhiều trong một thế giới kinh doanh ảo.

Mục tiêu marketing trực tuyến: Dù bạn xây dựng kế hoạch marketing trực tuyến để thay thế hoặc bổ xung cho kế hoạch marketing chung, cần nêu rõ và cụ thể các mục tiêu marketing trực tuyến. Ví dụ, có thể đặt mục tiêu "3000 khách thăm trang web của doanh nghiệp trong 6 tháng tới". Bằng cách đặt mục tiêu cụ thể, bạn mới có cơ sở để đánh giá quá trình thực hiện sau này. Một vài doanh nghiệp cũng đặt ra mục tiêu doanh thu bán hàng trên mạng.

Chiến lược marketing trực tuyến: Sau đó, bạn phải quyết định chiến lược marketing để đạt mục tiêu đã định. Bạn nên chọn một nhóm người dùng Internet làm khách hàng hoặc khán giả mục tiêu. Ví dụ, một nhà cung cấp cơm văn phòng qua trang web có thể chọn các nhân viên văn phòng làm khách hàng mục tiêu. Sau đó, bạn phải quyết định tạo ra sự khác biệt giữa sản phẩm/dịch vụ của bạn với các nhà cung cấp khác. Nhà cung cấp cơm văn phòng trên có thể chọn đặc tính "phục vụ ăn trưa theo yêu cầu" và "chọn món qua trang web" để thể hiện tuyên bố định vị "món ăn khác nhau cho các bữa khác nhau". Nếu bạn dùng các hoạt động marketing trực tuyến để hỗ trợ cho hoạt động marketing chung thì cần bảo đảm tính nhất quán– các yếu tố trong chiến lược marketing, ví dụ như chiến lược định vị phải phù hợp với chiến lược chung.

Các chiến thuật marketing trực tuyến: Về cơ bản, các chiến thuật marketing mà bạn áp dụng trên Internet tương tự như các chiến thuật truyền thống nhưng theo cách khác. Trên Internet, khách hàng có cơ hội tốt hơn để kiểm tra các đặc điểm kỹ thuật chi tiết của sản phẩm cũng như so sánh giá cả. Tùy vào chiến lược của bạn, cũng có thể nghĩ tới việc cung cấp cho khách hàng sản phẩm với các mức giá có thể mặc cả. Có rất nhiều lựa chọn các công cụ tương tác để thu hút khách hàng như các banner tương tác cho phép khách hàng nhấn chuột vào để xem chi tiết hơn, cung cấp thông tin có ích hấp dẫn người xem tới trang web của bạn… Tuy nhiên, đối với việc giao hàng, về cơ bản bạn vẫn phải giao hàng trực tiếp, trừ các sản phẩm đặc biệt có thể số hóa như âm nhạc, sách, phần mềm hoặc ảnh số.

Do tính vô hình của hoạt động kinh doanh trên Internet nên những chiến lược để phục vụ như con người, quy trình và chứng cứ hữu hình có vai trò rất quan trọng để xây dựng lòng tin. Bạn có thể sử dụng các ý kiến bình luận hoặc xếp hạng của khách hàng về sản phẩm/dịch vụ, mô tả cách thức cung cấp sản phẩm/dịch vụ cho khách hàng và sự hiện diện thực tế của doanh nghiệp như văn phòng hoặc cửa hàng để hỗ trợ thông tin về sản phẩm/dịch vụ.

Thực hiện: Bạn cũng phải lập kế hoạch thực hiện trong đó nêu rõ ai làm gì và khi nào. Ví dụ, nếu bạn thuê người xây dựng trang web, bạn phải giám sát họ chặt chẽ và bảo đảm thời hạn. Sau cùng phải đánh giá kết quả bạn đã đạt được so với mục tiêu.


Xem tiếp

Bản gốc: Thiết kế website - Lập kế hoạch marketing trực tuyến
0 nhận xét

Nhung ngo nhan ve khach hang trung binh

Số lượt xem: 141
Gửi lúc 09:07' 24/01/2011

Những ngộ nhận về khách hàng trung bình

Hãy cố gắng xác định một cách gần đúng các phân đoạn khách hàng hàng đầu để hướng đến chứ đừng tìm những thông tin sai lầm một cách chính xác về cái gọi là "trung bình".

Không có gì gọi là "khách hàng trung bình" cả. Giảng viên chuyên ngành marketing John Deighton thuộc Trường Kinh doanh Harvard có lần đã đưa ra một phép so sánh sinh động để thể hiện cho quan điểm đó, đồng thời chỉ ra rằng các công ty nên phân đoạn cơ sở khách hàng của mình.

Ông giả định trường hợp một công ty sản xuất đồ uống nghiên cứu thấy khoảng 50% người dân trên thế giới thích uống trà nóng, trong khi đó, 50% còn lại thích trà lạnh. Vậy có hợp lý không khi công ty này quyết định sản xuất trà ấm - một sản phẩm đảm bảo rằng ai cũng thích? Dĩ nhiên, vấn đề ở đây là làm như thế chẳng có ý nghĩa gì cả.

Levitt và Dubner, hai tác giả của cuốn sách Freakonomics (Kinh tế học hài hước), còn đưa ra một ví dụ có phần "ghê rợn" hơn rằng khi lấy mẫu điều tra, một người lớn "trung bình" trên thế giới sẽ chỉ có một bầu ngực và một tinh hoàn. Trong cả hai trường hợp nêu trên, phương pháp lấy trung bình của toán học đem lại một dữ liệu thú vị song không mấy hữu ích.

Tuy vậy, các công ty vẫn mắc sai lầm khi tạo ra những sản phẩm với những tính năng phù hợp với ý kiến bình quân. Họ chăm chú nghiên cứu các kết quả tổng hợp và số liệu trung bình tổng. Trong khi đó, lẽ ra họ nên tách riêng từng thành tố tạo nên các kết quả đó, và tập trung tìm hiểu xem ai, hay điều gì, đã tạo nên các số liệu trung bình đó.

Chìa khóa thành công của các chiến lược lấy khách hàng làm trọng tâm là sự hiểu biết về những phân đoạn khách hàng nhỏ, năng động, và sau đó phát triển những sản phẩm phù hợp, đưa ra mức giá hợp lý, và xây dựng kế hoạch tấn công thị trường đúng đắn đối với từng phân đoạn khách hàng.

Đầu tiên, hãy tìm hiểu cách làm thế nào để phục vụ ba phân đoạn khách hàng lớn nhất của công ty bạn theo những cách tốt nhất, riêng biệt, và có lãi nhất. Nghe qua thì đơn giản, song phương pháp này lại thường đưa bạn tới những ý tưởng phát triển sản phẩm hoặc chiến lược marketing độc đáo, khác thường.

Ví dụ: Nếu muốn tìm kiếm thêm khách hàng thường xuyên, thì khi phân tích về tỷ lệ khách quay trở lại với công ty mình, có thể bạn sẽ nhận thấy rằng mình nên "co hẹp" cơ sở khách hàng hiện tại trước khi tìm cách phát triển nó. Có lần tôi nói chuyện với CEO của một chuỗi cửa hàng spa; mục tiêu của anh là: thuyết phục ít nhất 70% số khách hàng quay trở lại sử dụng dịch vụ spa của công ty anh ít nhất một lần mỗi tháng.

Vậy là anh nhắm đến đối tượng khách hàng năng động. Để xác định được họ, anh sử dụng cơ sở dữ liệu khách hàng thu thập được, sau đó tập trung thu hút nhóm này. Trong ví dụ này, giá trị của phân đoạn khách hàng thường xuyên lớn hơn giá trị mà nhiều khách hàng đơn lẻ mang lại. Cả hai nhóm đều đem đến cho công ty mức doanh thu tương đương nhau trong thời gian ngắn, song xét về lâu về dài, việc tập trung vào phân đoạn khách hàng thường xuyên sẽ giúp họ giảm đi chi phí bán hàng và marketing.

Các công ty kinh doanh trực tuyến cũng nên thực hiện phân tích riêng đối với các dữ liệu tổng hợp về nhóm khách hàng cấp cao. Thoạt nhìn, số lượt khách hàng tham gia giao dịch hàng tháng hoặc tỷ lệ sử dụng dịch vụ trung bình ở mức cao có thể là dấu hiệu cho thấy chiến lược sản phẩm bạn đang áp dụng là rất tốt.

Nhưng khi phân tích hành vi tiêu dùng, có thể bạn sẽ thấy rằng khách hàng chỉ sử dụng một phần nhỏ trong tổng số những tính năng sản phẩm/dịch vụ mà bạn cung cấp. Trong trường hợp này, bạn hãy tập trung vào các tính năng bắt buộc phải có/được nhiều người dùng thay vì các tính năng bổ sung/ít người dùng.

Nhờ những công cụ trực tuyến như Google Analytics hay Survey Monkey, giờ đây bạn có thể dễ dàng có trong tay những thông tin về nhóm khách hàng thường xuyên. Nhưng liệu bạn có diễn giải thông tin đó một cách hợp lý không? Nếu kết quả thống kê cho thấy nhiều mâu thuẫn, thì bạn lại càng cần phải xác định đúng các phân đoạn khách hàng khác nhau.

Bằng cách sử dụng các nguyên tắc phân tích thị trường đã được kiểm nghiệm, và nhóm các kết quả thành từng nhóm (VD: những khách hàng sẵn lòng chi tiêu trong khoảng X - Y so với những khách hàng có thể chi tiêu trong khoảng Y - Z), các công ty có thể đưa ra được một đánh giá khá vững chắc về quan điểm của các nhóm khách hàng. Sau đó, họ có thể cân nhắc về những khác biệt giữa các nhóm này, từ đó tiến hành điều chỉnh chiến lược giá cả đối với các thị hiếu của khách hàng về sản phẩm của công ty hoặc khả năng chi tiêu của họ.

Các bạn đừng kỳ vọng phải có cơ chế phân đoạn khách hàng hoàn hảo. Không có gì là hoàn hảo cả - cũng giống như bài học rút ra được trong suốt những năm qua: không có gì gọi là "trung bình" cả. Nhưng hãy cố gắng xác định một cách gần đúng các phân đoạn khách hàng hàng đầu để hướng đến chứ đừng tìm những thông tin sai lầm một cách chính xác về cái gọi là "trung bình".

Theo VEF


Xem tiếp

Bản gốc: Thiết kế website - Những ngộ nhận về khách hàng trung bình
0 nhận xét